Đầu châm chữa bệnh

 

GS.TSKH Nguyễn Tài Thu – Chủ tịch Hội Châm cứu Việt Nam, Phó chủ tịch Liên hiệp, Hội Châm cứu thế giới (WFAS)

Khái niệm

Đầu châm là một trong những phương pháp chữa bệnh trong Y học phương đông như: Hào châm, điện châm, thuỷ châm, châm tê, châm cai nghiện, châm liệt v.v…Đây cũng là một phương pháp kết hợp đông y với tây y mà Y học phương Đông, nhất là Trung Quốc đã dùng từ lâu đạt kết quả rất tốt.

Ứng dụng phát triển “đầu châm” từ những năm chiến tranh chống Mỹ rất ác liệt, nhiều thương binh và đồng bào bị bom đạn gây những vết thương nặng ở chân tay nên không tiến hành châm cứu trên chân tay mình mẩy được. Khi cùng phát triển điện châm để mổ, để chữa các vết thương đau đớn, hoặc bị liệt 2 chi dưới, liệt tứ chi, khi xây dựng những phương pháp châm mới (Tân châm) chúng tôi cũng đã dùng “đầu châm” tức chỉ châm các khu huyệt ở đầu, mặt cổ đạt kết quả rất tốt. Đến nay, đã hơn một phần hai thế kỷ rồi nhiều thương bệnh binh đã không còn nữa, nhiều thầy thuốc đồng thời cũng đã ra đi. Đầu xuân năm mới này, tôi tranh thủ viết lại phương pháp “đầu châm” tức là chỉ châm trên đầu cổ mặt mà không châm trên cơ thể

Vận dụng lý luận Đông y kết hợp với lý luận Tây y

Nhắc qua lại một cách đơn giản mà cần thiết là phải ôn học lại một số kiến thức cơ bản về hệ thần kinh giải phẫu sinh lý của Y học hiện đại ứng dụng phương pháp “Tân châm” này gọi là phương pháp “đầu châm”. Phương pháp “Đầu châm” vận dụng lý luận của y học phương Tây về giải phẫu, sinh hoá, thần kinh, kết hợp lý luận đông y để định pháp điều trị cho bệnh nhân chỉ bằng những huyệt vị trong cơ thể con người cấu tạo trên các kinh lạc từ cơ thể chạy lên chạy xuống (tuần hành) qua đầu, cổ, mặt mà vẫn nằm trong hệ thống chính thể của con người thông qua hệ thống thần kinh giải phẫu sinh lý kết hợp với hệ thống kinh lạc, khí huyết, tạng phủ của y học phương đông.

Sau khi khám bệnh bằng lý luận và thực tiễn: Vọng, văn, vấn, thiết để được kinh huyệt điều trị bằng cách chọn các kinh huyệt qua cổ, mặt, đầu, thì phải biết những kinh huyệt đó đều có liên quan tới giải phẫu sinh lý của lý luận Tây y với lý luận kinh lạc,. Cũng vì vậy trong trị pháp, phải dùng những loại kim châm để áp dụng thuận tiện chỉ châm ở đầu, mặt, cổ mà ta gọi là “đầu châm” mà vẫn giải quyết được bệnh tật có liên quan đến Tâm, Can, Tỳ, Phế, Thận. Y học hiện đại quan niệm như:

1/ Về não tuỷ và bộ phận chu vi 12 đôi thần kinh não, 31 đôi thần kinh, giáp tích tới cơ thể

2/ Về hệ thần kinh thực vật, về cân cơ

3/ Về hệ giao cảm, phó giao cảm, về nội tiết

Đã nhiều năm qua, chúng tôi đã dùng nhiều huyệt đầu châm điều trị được nhiều loại bệnh khác nhau như thể châm.

Sau đây, xin giới thiệu để thầy thuốc châm cứu Việt Nam chúng ta có thêm nhiều kỹ thuật để cứu khổ, cứu đau đớn cho bệnh nhân

1/ Tiền đình – thuộc mạch Đốc: nằm trước huyệt Bách hội 1,5 thốn. Điều trị đau đầu, chóng mặt, kinh phong ở trẻ em, mặt nề do phù thũng ở trẻ em

2/ Thượng tinh – thuộc mạch Đốc: ở chính giữa mũi đi lên chân tóc 1 thốn. Tác dụng tán phong nhiệt, chữa viêm mũi, chảy máu mũi, viêm mắt, teo gai thị

3/ Ngũ hoa – ngoại kỳ huyệt : Từ huyệt Bách hội, đo ra trước sau trái phải, mỗi huyệt cách huyệt Bách hội 2 thốn là huyệt Ngũ hoa điều trị chóng mặt, đau đầu kinh niên, chữa viêm não ở trẻ em, não tích thuỷ, kỹ thuật châm, luồn kim dưới da về từ phía huyệt Bách hội.

Trẻ em thóp chưa kín thì không được châm.

4/ Tứ thần thông: Có bốn huyệt trước, sau, phải, trái cách huyệt Bách hội 1 thốn. Chữa nhức đầu hoa mắt, động kinh, cuồng điên (người xưa gọi là Thánh huyệt)

5/ Dương bạch – kinh Đởm: Huyệt ở trên bờ lông mày 1 thốn thẳng từ đồng lên. Chủ yếu chữa bệnh về mặt, quanh mắt ( mờ mắt, sụp mi mắt vì da vùng mắt do TKV chỉ huy)

6/ Đầu lâm khấp – kinh Đởm: từ con người thẳng lên chân tóc đến chỗ bên trái chân tóc 0,5 thốn là huyệt chữa sụp mi mắt là chỗ da vùng huyệt chi phối là tiết đạm thần kinh V, còn chữa niêm giác mạc mắt, viêm khoé mắt ngoài, chảy nước mắt.

7/ Đầu nhiếp – Kỳ huyệt: Huyệt nằm ở phía sau huyệt Thái dương 1 thốn ngay với đỉnh nhọn của đầu tai (lúc châm khi cắn răng lại thấy nới đó nổi lên)

Tác dụng: Giảm đau đầu, đau thái dương, nhưng cũng điều trị được giảm trí nhớ, tâm thần phân liệt.

8/ Thông thiên: Vị trí huyệt từ phía trước huyệt Bách hội 1 thốn đo ra 2 bên mỗi bên 1,5 thốn (chi phối bởi TK V)

Điều trị: Phối hợp với Thương tinh, Hợp cốc, Ấn đường, Phong trì chữa đau đầu, viêm mũi, viêm xoang

9/ Ngũ xứ: Vị trí từ 2 bên của Đốc mạch. Vị trí huyệt Thượng tinh đo ngang ra 2 bên 1,5 thốn là huyệt.

Điều trị: chóng mặt, đau đầu, nghẹt mũi, tâm thần phân liệt, hoa mắt.

10/ Trung tiếp – Kỳ huyệt: Vị trí: trên huyệt Phong phủ 1 thốn

Điều trị: bệnh nhi não tích thuỷ, viêm não.

11/ Phát tế – Kỳ huyệt : Huyệt ở vùng đầu trán.

Từ khoé mắt ngoài thẳng lên bờ chân tóc trước, đo ra mỗi bên 1 thốn là huyệt.

Điều trị: hoa mắt, chóng mặt, đau 1/2 đầu .

12/ Phù bạch – Kinh Đởm: Vị trí ở vùng Thái dương bờ dưới. Điều trị: phối hợp với huyệt Phong trì, và huyệt Thái dương, ngoại quan chữa đau 1/2 đầu, đau răng, không há miệng được, ù tài, bướu cổ, vai cánh tay đau không nâng lên được.

13/ Phó á môn – Kỳ huyệt: Huyệt ở dưới huyết á môn 1 thốn, đo ra mỗi bên 0,5 thốn. Điều trị: á khẩu, bệnh viêm não, tai biến mạch máu não.

14/ Tam âm Tam dương – Kỳ huyệt: Huyệt ở phía trước loa tai, gần bờ chân tóc mai . Điều trị : ù tai, điếc tai, gần động mạch tai.

15/ Tốt điên: Đặc biệt kỳ huyệt

Điều trị: điên rồ đột ngột, đau giữa bao qui đầu, qui đầu, đau vùng Phong phủ.

Vị trí huyệt: ở chính giữa mặt trên của dương vật vị trí giữa bao quy đầu và quy đầu.

Phần kết

Qua nhiều năm đã vận dụng “đầu châm” cùng các hinh thức châm mà Việt Nam chúng ta đã phát triển. ở Việt Nam, xem lại tổng số bệnh nhân mà chúng tôi đã vận dụng “đầu châm” để phục vụ nhân dân, nhất là phục vụ các thương bệnh binh yêu dấu. Tôi thấy cần phải giới thiệu phương pháp “đầu châm” chữa bệnh đạt nhiều kết quả  trong quá khứ. Nếu quên phần “đầu châm” không truyền lại cho đồng nghiệp là thiếu sót do đó hiện nay giới thiệu tài liệu này với cùng đồng nghiệp yêu mến. 

 

 

 

Tin Liên Quan